Tác giả: LTH - 14/04/2022
A A
Hưng Yên: Phát triển nông nghiệp hữu cơ

Trước yêu cầu của thị trường về chất lượng nông sản và bảo vệ môi trường sống bền vững, đòi hỏi sản xuất nông nghiệp cần chuyển sang sản xuất gia tăng giá trị, chất lượng cao, hạn chế tới mức thấp nhất tồn dư hóa chất cũng như các chất gây hại trong sản phẩm nông nghiệp.

Với mục tiêu xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ gắn với tiêu thụ trên cơ sở lựa chọn sản phẩm nông nghiệp chủ lực, có lợi thế cạnh tranh của tỉnh và công bố rộng rãi các vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ để thu hút các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư vào phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ; tổ chức sản xuất tạo ra sản phẩm được chứng nhận hữu cơ phù hợp với tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ của khu vực và thế giới; ngày 22.3.2021, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 850/QĐ-UBND phê duyệt đề cương - dự toán Đề án “Hỗ trợ xác lập và phát triển vùng sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Mục tiêu của đề án, đến năm 2025, diện tích đất trồng trọt hữu cơ đạt khoảng 1% diện tích trồng trọt đối với các cây trồng chủ lực của tỉnh như: Lúa, cây ăn quả, rau. Tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi hữu cơ đạt khoảng 1% tính trên tổng sản phẩm chăn nuôi đối với các sản phẩm chăn nuôi chủ lực của tỉnh như: Thịt gia súc, thịt gia cầm, thủy cầm. Diện tích nuôi thả thủy sản hữu cơ đạt khoảng 0,5% tổng diện tích đối với một số sản phẩm nuôi chủ lực của tỉnh. Giá trị gia tăng của các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ so với sản xuất phi hữu cơ ít nhất từ 15% trở lên. Đến năm 2030, diện tích đất trồng trọt hữu cơ đạt khoảng 1,5% diện tích đất trồng trọt đối với các cây trồng chủ lực của tỉnh như: Lúa, cây ăn quả, rau. Tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi hữu cơ đạt khoảng 1,5-2% tính trên tổng sản phẩm chăn nuôi đối với các sản phẩm chăn nuôi chủ lực của tỉnh như: Thịt gia súc, thịt gia cầm, thủy cầm. Diện tích nuôi thả thủy sản hữu cơ đạt khoảng 1,5% tổng diện tích nuôi thả đối với một số sản phẩm chủ lực của tỉnh. Giá trị gia tăng của các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ so với sản xuất phi hữu cơ ít nhất từ 20% trở lên.

Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và PTNT, tiềm năng để phát triển vùng sản xuất các sản phẩm rau, quả, thịt an toàn tập trung phục vụ cho tiêu dùng nội bộ, đáp ứng nhu cầu cho thị thường Thủ đô Hà Nội và hướng tới xuất khẩu là một lợi thế rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Qua khảo sát, sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đã có chỗ đứng vững trên thị trường như rau sạch, thịt sạch, gạo sạch... Với điều kiện tự nhiên và xã hội của tỉnh, nông nghiệp hữu cơ có nhiều tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, đến nay, sản phẩm nông nghiệp hữu cơ của tỉnh chiếm một tỷ trọng rất nhỏ (không đáng kể) trong tổng sản lượng nông nghiệp của toàn tỉnh. Do vậy, sớm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ có ý nghĩa quan trọng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đáp ứng xu hướng chung của tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu nông sản, tạo động lực trong tổ chức lại và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Để sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, việc xây dựng Đề án “Hỗ trợ xác lập và phát triển vùng sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030” là cần thiết, nhằm xác định phạm vi sản phẩm, đối tượng thực hiện, kế hoạch thực hiện chính sách tác động và nguồn lực thực hiện, phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ về phát triển nông nghiệp hữu cơ và định hướng phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh giai đoạn 2020 - 2030.

Để phát triển nông nghiệp hữu cơ vừa bảo đảm tính bền vững, đồng thời bảo đảm năng suất và chất lượng sản phẩm, ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh đang tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp như: Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò của sản phẩm hữu cơ tới người quản lý, người sản xuất, các doanh nghiệp và người tiêu dùng; việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình sản xuất, chế biến, giám sát và chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Sở Nông nghiệp và PTNT tích cực xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành những cơ chế, chính sách hỗ trợ cụ thể cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ như quy hoạch vùng sản xuất, hỗ trợ vốn sản xuất, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, ưu đãi cho thuê đất... Đồng thời, có những chính sách hỗ trợ, quan tâm tới các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh liên quan tới phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hữu cơ, sinh học… Yếu tố thị trường có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp hữu cơ, do vậy, các ngành liên quan cần quan tâm, tìm hiểu thị trường tiềm năng giúp doanh nghiệp đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, các ngành, địa phương cần đánh giá lại quy trình sản xuất sản phẩm hữu cơ của các doanh nghiệp trên các phương diện: Quản lý, chất lượng, thương mại sản phẩm… để tìm ra những khó khăn, đề xuất giải pháp phù hợp cho phát triển. Nghiên cứu lựa chọn và điều chỉnh giống cây trồng, vật nuôi; cách thức, kỹ thuật canh tác phù hợp với điều kiện tự nhiên. Trước tình hình biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày một khó lường, gây ra nhiều bất lợi cho canh tác nông nghiệp hữu cơ, do vậy cần đẩy mạnh việc sử dụng hệ thống nhà lưới, nhà kính, hệ thống phun nước tự động (nhỏ giọt hoặc phun sương), hệ thống cảm biến tự động… trong phát triển nông nghiệp hữu cơ. Cùng với đó, đẩy mạnh khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư sản xuất và kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ; các mặt hàng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón, thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc hữu cơ. 

 

Từ Khoá